Tôi đứng trước bức ảnh ấy rất lâu.
Lâu đến mức dòng người hối hả lướt qua sau lưng tôi đã đổi qua mấy bận. Những bánh xe vali nghiến rào rạo trên nền đá, tiếng gọi nhau í ới, tiếng loa phát thanh đều đặn buông những thông báo giờ tàu vô hồn... tất cả cứ dội đến rồi trôi tuột đi như những đợt sóng vỗ bờ. Chỉ có tôi là bị đóng đinh ở đó, chôn chân trước một khung kính lạnh lẽo, trân trân nhìn vào bóng lưng của một người con gái mà tôi từng đinh ninh chỉ là một sản phẩm lỗi của nơ-ron thần kinh.
Anna có thật.
Hoặc ít nhất, đã từng có một sinh thể giống cô đến mức khiến toàn bộ hệ thống lý trí và những lời tự trấn an dối trá của tôi trở nên thảm hại.
Tôi áp những đầu ngón tay lên mặt kính. Lớp kính nhẵn thín, lạnh ngắt và không chút nhân từ. Nó ngăn cách tôi với cô gái trong ảnh bằng một cự ly chưa đầy một centimet, nhưng cũng đồng thời vạch ra một vực thẳm của bảy năm trời đã chết cứng phía sau khung hình đó.
Tháng 6 năm 2011, năm ấy, tôi mười lăm tuổi.
Tôi vắt óc cào bới lại ký ức về mùa hè năm đó. Một mùa hè oi ả, ngột ngạt, sực nức mùi mồ hôi, mùi giấy vở và áp lực thi cử đè nặng. Tôi nhớ những tờ đề toán bị gạch đỏ chằng chịt. Nhớ tiếng mẹ gọi dậy học bài mỗi sáng sớm. Nhớ bàn tay bố thỉnh thoảng vỗ vai tôi, bảo thi xong thì thích ngủ bao nhiêu cũng được. Nhớ cả cái cảm giác nhẹ nhõm đến lả người sau ngày cuối cùng của kỳ thi chuyển cấp.
Nhưng tôi hoàn toàn không nhớ mình đã gặp ai ở nhà ga.
Tôi càng không có lấy một mảnh ký ức nào về một cô gái mặc váy trắng, che ô vàng đứng lặng lẽ nhìn mình từ xa.
Có lẽ vì khi ấy tôi chưa hề nhìn thấy cô. Cũng có lẽ vì khi ấy, cô đã nhìn thấy tôi trước.
Ý nghĩ đó vừa xẹt qua, cả người tôi lập tức lạnh toát.
"Người mà cô ấy đang chờ... vẫn còn chưa kịp lớn."
Câu nói của chú nhân viên nhà ga như một đoạn băng hỏng bị kẹt lại, cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi. Mỗi lần âm vang ấy cất lên, tôi lại có cảm giác như ai đó đang dùng móng tay cào rách tướp thành ngực mình.
Người chưa kịp lớn. Là ai? Là tôi sao? Không, không thể nào.
Tôi lùi lại một bước, rồi lại vô thức tiến lên. Ánh mắt vẫn dán chặt như sam vào dòng chữ A.N. dưới bức ảnh. Hai ký tự ngắn ngủi ấy giờ đây hóa thành một lối vào chật hẹp dẫn tuột xuống căn hầm tối om của quá khứ. Tôi biết rõ, chỉ cần mình đặt chân bước xuống, có thể sẽ vĩnh viễn không còn đường quay lại. Nhưng nếu không bước, có lẽ cả phần đời còn lại tôi sẽ đứng hóa đá trước cánh cửa này, tự dằn vặt đến điên dại xem bên trong rốt cuộc cất giấu điều gì.
Tôi quay ngoắt người, nháo nhác tìm kiếm bóng dáng người nhân viên khi nãy. Chú đã biến mất giữa dòng người nhộn nhạo.
Tôi kéo lê chiếc vali dọc theo hành lang mái hiên, mắt đảo liên tục qua từng khuôn mặt mặc đồng phục xanh. Mồ hôi lạnh rịn ra ướt đẫm gáy dù gió sau mưa vẫn còn mơn man mát rượi. Vài hành khách quay lại nhìn tôi chằm chằm, có lẽ dáng vẻ hớt hải, thất thần của tôi lúc này chẳng giống một kẻ đang đi tàu bình thường.
Cuối cùng, tôi bắt gặp chú đang đứng gần cửa phòng trực ban. Ông đang cúi người ký nhận một tập giấy tờ, bên cạnh là một cô nhân viên trẻ tuổi.
Tôi bước vội đến.
"Chú ơi."
Ông ngẩng đầu, hàng chân mày hơi nhíu lại ngạc nhiên khi thấy tôi quay lại.
"Lại là cháu à?"
Tôi nuốt khan một cái. Cổ họng khô rát như xát muối.
"Chú có thể cho cháu hỏi thêm một chút về cô gái trong bức ảnh được không ạ? Cô ấy đi cùng ai? Nhóm chụp ảnh đó là nhóm nào? Họ còn để lại thông tin gì không chú?"
Tôi bắn một tràng câu hỏi, nhanh và gấp gáp đến mức chính tôi cũng nhận ra giọng mình đã lạc hẳn đi. Cô nhân viên trẻ ngẩng lên nhìn tôi tò mò. Chú nhân viên đặt bút xuống bàn, cau mày, nét mặt không biểu lộ sự khó chịu mà giống như đang dò xét xem tôi là người nhà, người quen, hay là một gã thanh niên có vấn đề về thần kinh.
"Cháu bình tĩnh đã."
Tôi siết chặt những ngón tay vào quai balo.
"Cháu xin lỗi. Nhưng chuyện này thực sự rất quan trọng với cháu."
Ông nhìn sâu vào mắt tôi thêm vài giây. Có lẽ sự tuyệt vọng bộc lộ quá rõ trong đáy mắt tôi lúc ấy đủ thê thảm để ông không nỡ phẩy tay đuổi đi.
"Chú không biết nhiều đâu. Hồi ấy bên câu lạc bộ nhiếp ảnh thành phố có phối hợp làm một bộ ảnh tư liệu về ga, về cảng, rồi phố cũ gì đó. Họ đến đây làm việc mấy ngày liền, chụp ở ga, ở Nhà hát lớn, rồi sang bên bờ Tam Bạc nữa. Mấy tấm ảnh treo ngoài kia là sau này họ in tặng lại cho ga."
"Câu lạc bộ đó tên gì ạ?"
Ông quay sang hỏi cô nhân viên bên cạnh: "Hình như đợt đó ai phụ trách nhỉ? Bình ảnh hay Cánh Buồm gì đó phải không?"
Cô nhân viên chớp mắt suy nghĩ một lúc rồi đáp: "Cháu nhớ mấy bức ảnh đó có ghi chép trong hồ sơ truyền thông cũ. Chắc là Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Cánh Buồm chú ạ. Nhưng lâu quá rồi, cháu không biết bây giờ người ta còn hoạt động không nữa."
Cánh Buồm. Tôi lập tức rút điện thoại, gõ vội cái tên ấy vào màn hình.
"Chú có biết họ hay ở đâu không ạ?"
"Hồi trước chú nghe phong phanh là họ hay sinh hoạt ở một phòng triển lãm nhỏ gần phố Tam Bạc. Nhưng giờ chỗ đó còn hay dẹp rồi thì chú chịu. Mà này, cháu tìm cô bé đó làm gì? Cô ấy là người thân của cháu à?"
Tôi hé miệng định nói, rồi lại ngậm chặt lại.
Tôi có thể giải thích thế nào đây? Rằng tôi đang truy lùng tung tích của một người con gái chỉ tồn tại trong giấc mơ của tôi từ năm bảy tuổi? Rằng tôi thậm chí còn chưa từng thấy mặt cô, nhưng lại nhận ra bóng lưng cô qua một bức ảnh cũ kỹ từ bảy năm trước? Rằng cô đã để lại cho tôi một lời hẹn ước sau ngày tốt nghiệp, và giờ phút này tôi đang đứng đây hệt như một kẻ mất trí, cào cấu nhặt nhạnh từng mảnh vỡ của một giấc ngủ dài?
Tôi không thể, cuối cùng, tôi chỉ khẽ đáp:
"Cháu cũng không biết nữa."
Cả hai người họ đều chìm vào im lặng. Câu trả lời của tôi nghe lố bịch và ngớ ngẩn đến cùng cực. Nhưng ngay tại khoảnh khắc ấy, đó lại là câu nói thành thật nhất mà tôi có thể thốt ra.
Chú nhân viên thở dài thườn thượt. Ông thò tay vào túi áo ngực, rút ra một mẩu giấy nhỏ và cắm cúi viết lên đó vài dòng.
"Đây! Chú nhớ mang máng có một người tên Bình, ngày xưa hay mang ảnh đến ga giao lưu. Chú không chắc số điện thoại này còn gọi được không, nhưng cháu cứ thử xem. Nếu ông ấy còn giữ hồ sơ triển lãm năm đó, may ra cháu sẽ tìm được tác giả A.N. là ai."
Tôi đón lấy mẩu giấy bằng cả hai tay. Dãy số điện thoại được viết bằng nét chữ hơi run, bên dưới chú thích dòng chữ ngắn gọn: "Bình ảnh."
Tôi cúi gập người.
"Cháu cảm ơn chú."
Ông hiền từ khoát tay. "Cảm ơn gì chứ. Nhưng chú khuyên thật, nếu là chuyện cũ quá rồi thì cũng đừng nên cố chấp làm gì. Cái nhà ga này, ngày nào chẳng có người đến người đi. Có người hôm nay còn đứng sờ sờ ở đó, ngày mai đã không biết trôi dạt về phương trời nào rồi."
Tôi nhìn ông, cổ họng lại nghẹn ứ. Ông hoàn toàn không biết mình vừa vô tình thốt ra một câu triết lý tàn nhẫn đến mức nào.
Có người hôm nay còn đứng đó, mai đã không biết trôi về đâu rồi.
Tôi vo chặt tờ giấy trong lòng bàn tay, cúi đầu chào thêm lần nữa rồi kéo vali quay lưng bước đi. Lúc đi ngang qua hàng hiên treo những bức ảnh, tôi không có dũng khí để nhìn thẳng vào khung kính ấy thêm bất cứ lần nào nữa. Tôi sợ. Sợ rằng nếu ngoái đầu lại, tôi sẽ thấy bóng lưng cô độc ấy tan biến khỏi khung hình, giống hệt cái cách Anna đã bốc hơi khỏi giấc ngủ của tôi suốt ba tháng ròng rã.
Vừa bước ra khỏi vòm cửa ga, cái nắng gắt gỏng sau cơn mưa hắt thẳng vào võng mạc tôi.
Hải Phòng buổi sáng sớm vẫn mang một nhịp sống ồn ào theo cái cách rất riêng. Không quá xô bồ ngột ngạt như Hà Nội, nhưng cũng chẳng hề êm đềm. Tiếng bô xe máy bình bịch, tiếng còi ô tô inh ỏi, tiếng mấy người bán hàng rong gọi nhau lanh lảnh, tiếng bánh xe nghiến trên mặt nhựa đường còn sũng nước. Tất cả cuộn vào nhau, quyện với mùi hơi nước ngai ngái bốc lên từ vỉa hè và mùi patê béo ngậy tỏa ra từ xe bánh mì cay gần đó.
Tôi đứng thẫn thờ trước sân ga, bất giác ngước mắt nhìn lên chiếc đồng hồ khổng lồ ngự trị trên mặt tiền tòa nhà. Cây kim phút chậm rãi nhích từng nhịp vô tình. Nó chẳng chờ đợi bất cứ ai.
Điện thoại trong túi quần tôi bỗng rung lên bần bật. Là mẹ gọi.
Nhìn tên bà hiện lên trên màn hình, trong lòng tôi chợt trào dâng một nỗi chột dạ y hệt một đứa trẻ vừa làm chuyện tày đình. Sáng nay tôi xuống tàu nhưng không ghé về nhà. Nếu mẹ biết tôi đã đặt chân tới Hải Phòng mà vẫn lang bạt ngoài đường, chắc chắn bà sẽ gặng hỏi. Và tôi thì không có lấy một lý do nào nghe lọt tai để bao biện.
Tôi hít một hơi sâu, bấm nghe.
"Con nghe đây mẹ." "Con dậy chưa? Hôm qua làm lễ chắc mệt lắm hả? Mẹ cứ tưởng sáng nay con sẽ ngủ bù cơ."
Tôi dán mắt vào dòng người đang ngược xuôi trước cổng ga, nói dối bằng một chất giọng bình tĩnh đến mức đáng sợ: "Con dậy rồi mẹ ạ. Con đang dọn nốt đồ đạc trên phòng." "Thế bao giờ con mới bắt xe về Hải Phòng?"
Tôi khựng lại nửa giây. "Chắc phải chiều nay hoặc sáng mai con mới về được. Con còn vướng chút việc ở Hà Nội ạ."
Đầu dây bên kia rơi vào tĩnh lặng. Sự im lặng của mẹ tôi luôn có hình thù rõ rệt. Nó không rơi tõm xuống như một khoảng không vô định, mà siết chặt lấy cổ họng người đối diện như một bàn tay lạnh lẽo. Tôi biết tỏng mẹ đang đánh hơi thấy điều bất thường. Từ khi tôi còn nhỏ xíu, bà luôn sở hữu một thứ trực giác nhạy bén đến rợn người trước mọi biểu hiện khác lạ của tôi, đặc biệt là những thứ dính dáng đến cái tên Anna.
"Minh An." "Vâng?" "Đừng tự ép mình mệt mỏi quá, nghe không con."
Tôi cụp mắt xuống, lảng tránh cả cái bóng của chính mình. "Con biết rồi thưa mẹ." "Có chuyện gì... thì phải nói với mẹ."
Tôi cúi xuống nhìn mẩu giấy ghi số điện thoại đang nằm ngoan ngoãn trong tay. Những con số mực xanh đậm đã bắt đầu nhòe đi vì mồ hôi rịn ra từ lòng bàn tay tôi. Có chuyện gì thì nói với mẹ.
Tôi đã từng rất muốn nói. Vô số lần. Nhưng ở đời có những chuyện, nếu bản thân mình còn chưa thuyết phục nổi chính mình tin vào nó, thì lấy tư cách gì để bắt người khác phải tin theo?
"Không có gì đâu mẹ. Con chỉ hơi thiếu ngủ thôi." Mẹ thở ra một hơi rất khẽ, như vừa trút được một gánh nặng vô hình: "Ừ. Nhớ ăn sáng đàng hoàng đấy."
Tôi vâng dạ rồi vội vã cúp máy. Màn hình điện thoại tối om. Trong lớp kính đen ngòm ấy, gương mặt tôi hiện lên nhợt nhạt, hoang mang. Chìm khuất phía sau gương mặt đó là bóng dáng tòa nhà ga màu vàng củ đậu, chiếc đồng hồ tròn xoe và những tán cây xà cừ đang rùng mình lay động trong gió.
Tôi nhét điện thoại vào túi, mở ứng dụng gọi xe, nhập điểm đến là đầu phố Tam Bạc.
Trước khi chiếc xe kịp lăn bánh tới, tôi quyết định bấm gọi vào số điện thoại trên mẩu giấy. Một hồi chuông dài, hai hồi, ba hồi, chẳng có ai nhấc máy.
Tôi áp chặt chiếc điện thoại đang nóng ran vào tai, nghe những tiếng "tút... tút..." kéo dài đều đặn đến buốt lạnh sống lưng. Đến hồi chuông thứ sáu, cuộc gọi tự động ngắt kết nối. Tôi nghiến răng gọi lại lần nữa. Vẫn chỉ là sự câm lặng đáp trả.
Tôi nhìn trân trân vào mẩu giấy, rồi lại nhìn màn hình điện thoại. Một cảm giác hụt hẫng, trống rỗng và lạnh lẽo bất chợt dâng trào. Chỉ vài phút ngắn ngủi trước, tôi còn le lói tia hy vọng rằng mình vừa tóm được một sợi dây cứu sinh. Vậy mà sợi dây ấy còn chưa kịp kéo căng đã tuột mất khỏi những ngón tay yếu ớt.
Xe tới, tôi chui tọt vào ghế sau, kéo vali đặt sát cạnh chân. Bác tài xế là một người đàn ông trạc tuổi ngũ tuần, vừa với tay vặn nhỏ cửa gió điều hòa vừa cất giọng ồm ồm:
"Cậu em đi phố Tam Bạc à?" "Vâng ạ." "Về đó đi chơi hay có công chuyện thế?"
Tôi ngoảnh mặt nhìn ra ngoài lớp cửa kính bám lấm tấm nước: "Em đi tìm người quen."
Bác tài xế bật cười hà hà: "Tìm người quen ở mạn Tam Bạc thì đúng bài rồi. Phố cũ mà, chứa chấp nhiều chuyện cũ lắm."
Chỉ là một câu giao tiếp vu vơ của người qua đường. Nhưng trong cái buổi sáng định mệnh này, mọi câu nói vô thưởng vô phạt đều vang lên như một lời tiên tri ác ý mà số phận đang giễu cợt tôi.
Chiếc xe lăn bánh, dần bỏ lại ga Hải Phòng ở phía sau. Qua lăng kính của ô cửa sổ xe, thành phố quê hương sau cơn mưa gột rửa hiện lên mang một vẻ đẹp vừa thân thuộc lại vừa đẫm sự lạ lẫm. Những con phố, những ngã tư mà tôi đã đi mòn gót giày vô số lần bỗng dưng bị phủ lên một lớp sương mù hư ảo. Hàng cây cổ thụ, những tấm biển hiệu chớp tắt, những ngã rẽ quanh co, cho đến cả mấy tiệm ăn sáng ồn ào ven đường... tất thảy đều trở nên chông chênh, như thể chỉ cần tôi nháy mắt một cái, chúng sẽ tan biến thành một bối cảnh dàn dựng trong mơ.
Tôi mơ hồ tự hỏi, năm ấy Anna đã ngắm nhìn thành phố này bằng ánh mắt như thế nào?
Một cô gái lớn lên ở miền Nam, lặn lội một mình vác máy ảnh ra tận Hải Phòng vào mùa hạ oi ả của năm 2011. Cô bước chân xuống sân ga, thu mình dưới mái hiên cũ, đưa mắt nhìn những đoàn tàu rỉ sét, nhìn dòng người ngược xuôi tất bật, nhìn một thành phố xa lạ chẳng thuộc về mình nhưng lại là bối cảnh quen thuộc trong những giấc mơ hoang đường của cô suốt ngần ấy năm trời.
Cô có sợ hãi không? Cô có thấy bản thân mình điên rồ như cái cách tôi đang tự cười nhạo chính mình lúc này không? Hay cô vốn đã tỏ tường mọi sự từ trước?
Tôi kéo khóa balo, lôi cuốn nhật ký năm 2011 ra. Lật giở đến những trang viết ngay trước phần giấy bị xé rách thảm thương. Dưới thứ ánh sáng chập chờn, lúc tỏ lúc mờ xuyên qua cửa kính xe, những dòng chữ lại một lần nữa hiện hình.
"Anna nói, có những địa điểm nếu chưa từng đến mà vẫn nhớ được thì rất đáng sợ."
Tôi lặng lẽ dán mắt vào câu văn đó rất lâu. Đáng sợ thật, nhưng cái sự thật khiến người ta lạnh gáy hơn cả là: cô đã bằng xương bằng thịt đặt chân đến đó.
Xe hãm phanh ở đầu con phố Tam Bạc. Tôi thanh toán tiền, xách vali bước xuống vỉa hè. Những cơn gió từ mặt sông thổi thốc lên mang theo hơi nước lạnh và thứ mùi bùn lầy ngai ngái đặc trưng. Phố Tam Bạc vươn mình sau cơn mưa mang một vẻ u buồn, hoài cổ đến nao lòng. Những dãy nhà ống cũ kỹ nằm san sát nhau, mặt tiền tường vôi đã bong tróc, loang lổ vết tích thời gian. Những cánh cửa sắt hoen gỉ, biển hiệu phai màu, những ban công nhỏ xíu cơi nới chằng chịt dây điện mạng nhện. Phía xa xa, mặt sông phẳng lặng phản chiếu một bầu trời xám xịt nhợt nhạt.
Tôi chưa từng mường tượng ra viễn cảnh có một ngày, mình sẽ đứng chôn chân ở góc phố quen thuộc này để sắm vai một gã thợ săn, truy tìm dấu vết của một người tình trong mộng.
Tôi quyết định bấm số gọi cho "Bình ảnh" lần thứ ba. Lần này, sau bốn hồi chuông nhẫn nại, rốt cuộc cũng có người bắt máy. Một giọng đàn ông có tuổi, khàn đặc và hơi vẩn đục vang lên đầu dây bên kia:
"Ai đấy?"
Tôi sững người lại, quả tim trong lồng ngực nhảy chồm lên.
"Dạ... cháu chào bác. Bác cho cháu hỏi có phải bác Bình không ạ?"
Đầu dây bên kia im ắng mất vài giây. "Ừ, Bình đây. Cậu là ai vậy?"
Tôi siết chặt chiếc điện thoại đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. "Cháu tên là Minh An. Cháu ngàn lần xin lỗi vì đã gọi điện đường đột thế này. Cháu xin được số của bác từ một chú nhân viên làm ở Ga Hải Phòng. Cháu gọi vì muốn hỏi thăm về một bức ảnh chụp ở sân ga vào tháng 6 năm 2011. Tác giả ký dưới ảnh tên là A.N. ạ."
Lần này, khoảng không tĩnh lặng bị kéo dãn ra lâu hơn. Dài đến mức tôi suýt lầm tưởng sóng điện thoại đã bị ngắt.
"A.N. à?" Giọng ông Bình chùng hẳn xuống, chậm rãi hơn. "Cháu dạo hỏi về cô bé đó để làm gì?"
Tôi có thể nghe thấy rõ mồn một nhịp đập thình thịch của tim mình ngay sát màng nhĩ. Lại là câu hỏi chí mạng đó. Lại là cái câu hỏi mà tôi vĩnh viễn không thể đưa ra một đáp án tròn trịa.
"Cháu... đang đi tìm cô ấy."
Bên kia đầu dây vọng lại những tiếng động lạo xạo, xê dịch, hệt như âm thanh của một chiếc ghế gỗ cũ kĩ bị kéo lê trên mặt sàn.
"Cháu đang đứng ở đâu?" "Cháu vừa mới xuống xe ở đầu phố Tam Bạc ạ." "Đi bộ dọc xuống phía mặt bờ sông. Cứ đi sẽ thấy một tiệm ảnh cũ treo biển Bình Ảnh, cái biển màu xanh đã bạc màu ấy. Nếu cậu thật sự muốn biết, thì đến đây nói chuyện. Nhưng chú nói trước cho cậu chuẩn bị tâm lý, chuyện về cô bé đó không hề đơn giản như cậu nghĩ đâu."
Tôi chưa kịp mở miệng hỏi "không đơn giản" là có ý gì, ông Bình đã dứt khoát cúp máy.
Tôi đứng chôn chân như trời trồng giữa mép vỉa hè. Gió từ lòng sông lùa qua, xộc vào người làm vạt áo tôi lạnh buốt.
Tôi đưa mắt nhìn về phía cuối con phố dài ngoằng. Dãy nhà cổ câm lặng phơi mình dưới ánh sáng ủ dột sau mưa, trông chúng như những ông lão bà lão ngồi trầm ngâm bên vệ đường, đôi mắt khép hờ tĩnh tại nhưng thực chất lại nắm giữ tường tận mọi bí mật bẩn thỉu lẫn đẹp đẽ nhất của thành phố này.
Tôi lấy đà, kéo vali cất bước đi. Những chiếc bánh xe nhựa lăn lóc trên nền gạch vỉa hè ẩm ướt, phát ra những tiếng lộc cộc, lạch cạch khô khốc. Thứ âm thanh đó nghe thật lạc lõng, chói tai giữa bản hòa ca của tiếng xe cộ và tiếng người mua kẻ bán lao xao buổi sáng.
Tiệm ảnh Bình Ảnh nằm khép nép giữa một cửa hàng bách hóa tổng hợp và một tiệm sửa chữa đồng hồ cũ kĩ. Tấm biển hiệu bằng tôn màu xanh nước biển đã bạc màu vệt thời gian, những con chữ màu vàng bị nắng mưa làm cho bong tróc từng mảng lớn. Cửa kính ra vào phủ một lớp bụi mờ. Đứng từ ngoài nhìn vào, có thể thấy vô số những khung ảnh cưới bám bụi, ảnh thẻ, ảnh phong cảnh Hải Phòng, và lác đác vài bức ảnh đen trắng lột tả phố xá từ thời bao cấp được treo lộn xộn, vô trật tự.
Tôi vặn tay nắm, đẩy cửa bước vào trong. Chiếc chuông đồng nhỏ xíu treo trên mí cửa reo lên những tiếng leng keng thanh thúy.
Một hỗn hợp mùi hương xộc thẳng vào khứu giác: mùi hóa chất tráng rửa phim ảnh nồng nặc, mùi giấy in ảnh ngai ngái, mùi đồ gỗ ẩm mốc và cả mùi khói thuốc lá ám lâu ngày. Không gian bên trong tiệm u tối hơn thế giới bên ngoài rất nhiều. Chút ánh sáng mặt trời hiếm hoi lách qua được lớp rèm vải mỏng manh, rớt xuống mặt sàn gạch hoa tạo thành những vệt sáng màu xám tro nhờ nhợt.
Sau quầy tiếp tân, một người đàn ông trạc độ ngoài sáu mươi đang ngồi lặng yên bên chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi. Tóc ông đã ngả màu muối tiêu quá nửa, trên sống mũi vắt vẻo cặp kính lão. Tầm mắt ông dán chặt vào tấm ảnh đang được lau chùi dở dang trên tay.
Nghe tiếng động, ông từ từ ngẩng đầu lên nhìn tôi.
"Minh An?" Tôi gật đầu lúng túng. "Dạ."
Ông thong thả đặt tấm ảnh xuống mặt bàn. "Khép cái cửa lại đi cậu. Ngoài đường bụi bặm lắm."
Tôi ngoan ngoãn làm theo, sau đó đứng lóng ngóng, trơ trọi giữa không gian chật hẹp của tiệm ảnh. Chiếc vali du lịch nhỏ xíu đặt cạnh chân tôi bỗng chốc trở thành một vật thể thừa thãi, kệch cỡm đến mức nực cười.
Ông Bình chầm chậm quét ánh nhìn đánh giá tôi từ đỉnh đầu xuống gót giày. "Cậu vừa từ Hà Nội bắt tàu về đây à?"
Tôi hơi trợn mắt ngạc nhiên. "Sao bác lại biết ạ?" "Cái dáng vẻ của một người vừa nhảy xuống từ trên tàu hỏa nó khác bọt với người sống quanh năm ở cái thành phố này lắm. Đáy mắt lúc nào cũng hớt hải, mang cái vẻ chưa thực sự trở về tới nơi."
Tôi cắn môi, không biết phải đáp trả lời nhận xét sắc sảo ấy ra sao.
Ông hất cằm chỉ về phía chiếc ghế gỗ trống rỗng trước mặt. "Ngồi xuống đi."
Tôi rụt rè thả người ngồi xuống. Mặt ghế gỗ kêu lên cái rắc, cót két phản đối dưới sức nặng cơ thể tôi. Ông Bình chống tay đứng dậy, đi chậm rãi về phía chiếc tủ hồ sơ cao ngất ngưởng nằm kê sát bức tường. Một chiếc tủ sắt cổ lỗ sĩ sơn màu ghi xám xịt. Trên mỗi ô ngăn kéo đều được dán những mẩu giấy nhớ đã ố vàng, nhăn nheo ghi chú phân loại: "Cưới hỏi", "Phong cảnh", "Tư liệu", "Triển lãm".
Ông thò tay kéo mạnh cái ngăn có dán chữ "Triển lãm". Lớp kim loại rỉ sét cọ xát vào rãnh trượt rít lên một âm thanh chát chúa, rợn gai ốc.
"Hồi nãy cậu nói là bức ảnh tháng 6 năm 2011?" "Vâng thưa bác. Ảnh chụp sân Ga Hải Phòng sau mưa. Tác giả ký tên là A.N."
Ông cặm cụi lục lọi một hồi, rồi cẩn thận rút ra một tập hồ sơ dày cộp được bọc kín trong chiếc túi nilon trong suốt. Mặt ngoài lớp nilon có dán một nhãn giấy đánh máy: "Thành phố sau mưa - 2011."
Quả tim trong lồng ngực tôi lại bắt đầu đập loạn nhịp. Ông Bình mang tập hồ sơ đặt phịch xuống bàn, nhưng bàn tay đầy đồi mồi chưa vội mở nó ra. Thay vào đó, ông chiếu tướng tôi bằng một ánh mắt sắc lẹm.
"Cậu có quan hệ thế nào với cô bé đó?"
Tôi cúi gầm mặt, dán mắt vào tập hồ sơ cất giấu bí mật. Những ngón tay đang đặt trên đầu gối vô thức siết chặt lấy nếp quần. "Cháu... thực sự không biết."
Đôi mày ông Bình cau lại thành một chữ xuyên. "Lại cái điệp khúc không biết?" "Nếu cháu nói thật với bác rằng... cháu chỉ từng gặp cô ấy trong những giấc mơ, bác có tin cháu không?"
Ngay khi thốt ra câu nói ấy, tôi cũng không hiểu nổi dây thần kinh nào của mình bị chập. Có lẽ vì tôi đã quá sức chịu đựng. Khối óc tôi đã mệt mỏi đến mức không còn vắt kiệt thêm được một giọt sáng tạo nào để thêu dệt nên một lời nói dối hoàn hảo. Mệt mỏi đến độ, sự thật dù có hoang đường, vớ vẩn đến đâu, vẫn dễ dàng buông ra hơn là phải nhọc lòng bịa đặt một cái cớ tầm thường.
Ông Bình im lặng nhìn chằm chằm vào tôi, một cái nhìn kéo dài như vô tận.
Tôi đã nín thở chuẩn bị tinh thần để hứng chịu một ánh mắt thương hại, một cái trừng mắt mỉa mai, hay tệ hơn là thái độ đề phòng như đang nhìn một thằng tâm thần rồ dại. Nhưng ông tuyệt nhiên không cười giễu. Ông cũng chẳng xua tay đuổi tôi ra khỏi cửa tiệm. Ông chỉ lẳng lặng tháo gọng kính lão xuống, dùng vạt áo thong thả lau cặp tròng kính, rồi chậm rãi nhả ra một câu nói khiến toàn thân tôi nổi gai ốc.
"Cô bé đó... ngày xưa cũng từng nói với chú một câu y xì đúc như vậy."
Toàn bộ bầu không khí nồng mùi hóa chất trong tiệm ảnh đột ngột đông cứng lại. Tôi mở to mắt, trân trân nhìn ông như kẻ mộng du.
"Cô ấy... cô ấy đã nói gì cơ ạ?" Ông từ tốn đeo kính lên sống mũi, cẩn thận tháo lớp nilon bọc hồ sơ.
"Nó bảo, nó lặn lội ra tận Hải Phòng này, chỉ để kiểm chứng xem một giấc mơ có thật hay không."
Tôi có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng nứt vỡ, đổ sập của một thứ gì đó tàng hình ngay bên trong hộp sọ mình. Không phải là một tiếng nổ chát chúa, ầm vang. Mà nó diễn ra một cách thầm lặng, bi ai. Giống hệt như một bức tường gạch vữa đã nứt nẻ sau hàng chục năm rệu rã, cuối cùng cũng hoàn toàn gục ngã, buông xuôi sau một trận mưa bão càn quét.
Ông Bình thò tay rút ra một xấp ảnh. Những bức ảnh in màu khổ lớn, giấy ảnh loại xịn, mép giấy vẫn còn sắc lẹm chưa hề quăn góc. Ông cẩn thận trải đều chúng ra trên mặt bàn gỗ, lật mở từng tấm một.
Cảnh Ga Hải Phòng chìm trong làn nước mưa lênh láng. Kiến trúc Nhà hát thành phố lùi lũi dưới ráng chiều hoàng hôn. Một mảng tường rêu phong phố Tam Bạc in bóng mờ ảo trên mặt nước sông lợn cợn váng dầu. Một dãy ghế chờ hành khách bằng sắt hoen gỉ, trống hoác nằm bơ vơ dưới mái hiên nhà ga. Đường ray xe lửa dài hun hút, loang lổ ánh đèn vàng bợt bạt. Một bàn tay con gái trắng muốt đang nắm chặt cán chiếc ô màu vàng.
Ánh mắt tôi lướt đi, và khi chạm đến bức ảnh cuối cùng, tôi tắt thở.
Đó hoàn toàn không phải là bức ảnh được lồng kính treo ngoài hàng lang nhà ga. Tấm ảnh này được bắt nét từ một góc máy hoàn toàn khác. Bối cảnh vẫn là khoảng sân ga sũng nước sau mưa. Vẫn là hình ảnh chiếc ô màu vàng rực rỡ đó.
Nhưng lần này, ở phía hậu cảnh xa xa, lọt vào trong vùng ảnh hơi nhòe đi vì bị ánh sáng phản chiếu hắt vào, có bóng dáng một cậu thiếu niên vóc người mảnh khảnh. Cậu ta mặc chiếc áo sơ mi trắng đồng phục, một bên vai đeo chéo chiếc balo màu đen quen thuộc, đang đứng khép nép cạnh một người đàn ông trung niên bụng phệ. Cậu thiếu niên ấy hơi nghiêng nửa góc mặt về phía ống kính máy ảnh.
Mặc dù khuôn mặt trong ảnh bị out nét, không thực sự sắc nét, nhưng cái chiếc balo đen đã sờn quai ấy, cái dáng đứng thõng vai quen thuộc ấy, và cả cái kiểu tóc húi cua cắt ngắn cũn vểnh ngược lên phía sau gáy ấy...
Tôi biết. Lần này, tận sâu trong thâm tâm, tôi thực sự biết. Thằng nhóc đó chính là tôi.
Mùa hè rực lửa của năm 2011. Tôi không tài nào nặn ra được lý do vì sao ngày hôm đó mình lại có mặt ở ga. Có thể là tôi lẽo đẽo theo chân bố đi đón một người họ hàng xa xôi nào đó. Cũng có thể là một chuyến đi chơi ngắn ngày giải khuây sau khi thi xong, hoặc một việc vặt vãnh nào đó bị cối xay thời gian nghiền nát bét đến mức không còn lưu lại chút hình dạng nào trong não bộ.
Nhưng sự thật rành rành là: tôi đã hiện diện ở đó. Ngay trong cùng một khung hình vật lý với Anna. Hai chúng tôi chỉ cách nhau một khoảng sân ga bé tẻo teo, và một khoảng cách thời gian bảy năm đằng đẵng không một ai kịp cất tiếng gọi tên nhau.
Tôi vô thức đưa bàn tay lên che kín miệng, cố gắng ép lồng ngực mình phải hô hấp trở lại.
Ông Bình không mở miệng nói thêm lời nào. Có lẽ ở cái tuổi xế chiều, nếm đủ vị nhân tình thế thái, ông thừa hiểu rằng vào ngay khoảnh khắc tử huyệt này, bất kỳ một câu hỏi han nào bật ra cũng sẽ hóa thành một nhát dao tàn nhẫn.
Tôi trân trân nhìn tấm ảnh, hai hốc mắt bỗng nóng rực, cay xé.
Trong cái khung hình chết chóc ấy, tôi của năm mười lăm tuổi trẻ trâu, ngu ngốc hoàn toàn không thèm đánh mắt nhìn về phía cô dù chỉ một lần. Tôi đang mải mê ngoái đầu lại, liến thoắng nói chuyện gì đó với người đàn ông đứng cạnh, hoàn toàn mù tịt trước sự thật rằng: ở phía bên kia khoảng sân, có một người con gái đang đứng lặng lẽ dưới mái hiên tồi tàn, tay cầm chiếc ô vàng, và đang nhìn tôi bằng một ánh mắt như thể đang ngắm nhìn một ảo ảnh tuyệt đẹp nhưng vĩnh viễn không thể chạm tay vào.
Tôi bỗng thấy trào dâng một sự thương hại tột cùng dành cho chính bản thân mình. Thương hại thay cho thằng bé ngu ngơ của năm ấy. Và thương hại đến quặn thắt cho người con gái đã cất công bước đến một bề mặt thực tại... nhưng lại đến quá sớm.
Phải mất một quãng thời gian dài đến mức nghẹt thở, tôi mới tìm lại được giọng nói của chính mình. Âm thanh cất lên khàn đục như tiếng kính vỡ:
"Tên thật... tên thật của cô ấy là gì hả bác?"
Ông Bình ngước đôi mắt già nua nhìn tôi. Có vẻ như ông đã dự liệu và chờ đợi tôi đặt ra câu hỏi này ngay từ lúc tôi bước chân vào tiệm. Ông chậm rãi lật dở tập hồ sơ, rút ra một tờ giấy giới thiệu chương trình triển lãm đã ngả sang màu vàng ệch. Trên mặt giấy in chi chít danh sách tên tuổi các nhiếp ảnh gia tham gia.
Mắt tôi lướt nhanh qua một loạt những cái tên hoàn toàn xa lạ. Và rồi, con ngươi tôi khựng lại, dán chặt vào một dòng chữ duy nhất:
"A.N. - An Nhiên - TP. Hồ Chí Minh."
An Nhiên. Hai âm tiết ấy rơi tõm vào bề mặt lòng tôi một cách thật nhẹ nhàng. Nhưng sức công phá của nó lại khiến toàn bộ lục địa thế giới quan bên trong tôi rung chuyển dữ dội, vỡ nát thành từng mảng.
Anna không phải là Anna, cô ấy có một danh tính khác. Một cái tên thật sự, một cái tên hợp pháp có thể được in ấn rõ ràng trên văn bản giấy tờ, nằm chễm chệ trong danh sách tác giả của một buổi triển lãm nghệ thuật. Một cái tên gắn liền với một đô thị cụ thể, một cuộc đời cụ thể, một sinh mệnh bằng xương bằng thịt.
An Nhiên. Tôi cắn môi, lẩm nhẩm nhai đi nhai lại cái tên ấy trong đầu. Một lần. Rồi vô thức lặp lại thêm lần nữa. Càng gọi tên cô, tôi càng thấy nó lạ lẫm. Nhưng đi kèm với sự lạ lẫm là một nỗi đau đớn gặm nhấm tận xương tủy. Giống như việc suốt mười mấy năm ròng rã, tôi chỉ được cấp phép để gọi cô bằng một cái biệt danh mơ hồ, ảo não, trong khi phần nhân dạng chân thật nhất của cô thì lại bị giấu nhẹm đi ở một góc khuất chân trời nào đó, nơi mà thằng nhóc tôi ngày ấy chưa đủ lớn, chưa đủ tư cách để vươn tay tới.
Ông Bình kéo lê một chiếc ghế đẩu, ngồi phịch xuống đối diện tôi.
"Cô bé đó tên thật là An Nhiên, người gốc Sài Gòn. Hồi năm đó ra đây đi chung với một hội nhóm săn ảnh toàn người trẻ tuổi. Có một cậu thanh niên lớn tuổi hơn, có vẻ là đàn anh dẫn dắt cả nhóm, hình như cậu ta tên là Lâm thì phải."
Cái tên Lâm xẹt qua màng nhĩ tôi lạnh lẽo sắc bén như một mảnh dao cạo. Tôi ngẩng phắt đầu lên. "Lâm ạ?"
"Ừ. Chú chỉ nhớ mang máng thế thôi. Cái cậu Lâm đó thì hay giao thiệp, nói chuyện công việc với bên xưởng ảnh của chú nhiều hơn. Còn cái con bé An Nhiên thì nó lầm lì, ít nói lắm. Nó toàn tách đoàn đi lang thang một mình. Chú hay thấy nó ra đứng đực mặt ở ga, ngây ngẩn nhìn người ta vác đồ lên xuống tàu. Ảnh nó chụp bố cục thì đẹp đấy, có hồn, nhưng tấm nào xem xong cũng thấy buồn thê thảm."
Ngón tay nhăn nheo của ông gõ nhẹ lên tấm ảnh có dính bóng dáng tôi trong đó. "Hôm mang ảnh đi in, chú có tò mò hỏi nó, cớ sao lại cứ nhè lúc nhè chỗ chụp lén cái cậu nhóc kia nhiều thế."
Toàn thân tôi căng cứng như một khúc gỗ mục. "Cô ấy... cô ấy đã trả lời bác thế nào ạ?"
Ông Bình chìm vào im lặng mất vài giây, như để cân nhắc xem có nên nói ra hay không. "Nó cười buồn buồn rồi bảo: Cháu chỉ muốn chụp lại để chắc chắn rằng cậu ấy là có thật trên đời này."
Tôi tuyệt vọng nhắm nghiền hai mắt lại. Bên trong màn đêm u tối phía sau bờ mi, tiếng còi tàu thê lương lại bắt đầu hú lên từng chập rền rĩ. Nhưng lần này, âm thanh ấy không vọng về từ một miền ký ức xa xôi. Nó trồi lên từ một vết nứt vỡ nào đó sâu thẳm và tối tăm hơn rất nhiều bên trong linh hồn tôi.
Tôi đã tiêu tốn hơn chục năm trời của cuộc đời mình để dằn vặt tự hỏi xem Anna có phải là người thật hay không. Hóa ra, ở một đầu bên kia của dòng chảy thời gian, cô gái ấy cũng từng chôn chân trong chính sự sợ hãi tột độ ấy, đứng từ xa ngắm nhìn tôi và hoang mang tự hỏi chính mình một câu hỏi tương tự.
Tôi chớp mắt mở bừng ra, tấm ảnh chụp lén vẫn nằm chình ình trên mặt bàn. Thằng nhóc Minh An mười lăm tuổi ngốc nghếch vẫn đang hớn hở quay mặt đi hướng khác. Và An Nhiên của cái năm tháng thanh xuân ấy vẫn cắm rễ đứng phía sau bóng râm của chiếc ô màu vàng.
Không một ai trong hai kẻ lọt vào khung hình ấy biết được rằng, vòng quay bánh xe định mệnh bảy năm sau, một trong hai người sẽ phải ngồi co ro trong một tiệm ảnh ọp ẹp bên phố Tam Bạc, đôi tay run rẩy cầm lật lại khoảnh khắc dở dang ấy như đang đọc một bản án tử hình.
Tôi nuốt nước bọt, thều thào hỏi: "Bác có biết... bây giờ cô ấy đang ở đâu không ạ?"
Bàn tay ông Bình đang lúi húi thu dọn mấy tấm ảnh gom lại bỗng nhiên khựng lại. Một tích tắc rất nhẹ. Rất mỏng. Nhưng đôi mắt đang căng lên vì tuyệt vọng của tôi vẫn kịp thời bắt trọn lấy phản ứng đó.
Ông không trả lời ngay tắp lự. Ông cúi gầm mặt, sắp xếp tỉ mỉ từng bức ảnh thành một xấp vuông vức ngay ngắn. Cái sự im lặng trốn tránh ấy khiến quả tim tôi như bị ai buộc đá tảng, bắt đầu chìm lỉm xuống đáy bùn sâu.
"Bác ơi?" Ông Bình cất tiếng thở dài sườn sượt: "Chú thực sự không rõ."
Tôi không tin. Dứt khoát không tin. Ở đời có những lời phủ nhận được ngụy tạo quá đỗi vụng về, đến mức chúng chẳng thể nào xoa dịu được sự hoài nghi của người nghe.
"Nhưng chắc chắn bác biết một chuyện gì đó, đúng không thưa bác?"
Ông từ từ ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi. Và trong đôi đồng tử đã vẩn đục màu mây mù của tuổi tác ấy, tôi bỗng nhận ra một sự thương cảm sâu sắc. Một thứ ánh mắt xót xa làm tôi phải khiếp đảm co rúm người lại.
"Minh An à. Ở đời có những người, khi mình lật đật tìm thấy họ thì đã quá muộn màng. Và việc tìm thấy sự thật vào lúc ấy... chưa chắc đã là một sự may mắn đâu cháu ạ."
Tôi bật phắt dậy như bị điện giật. Chiếc ghế gỗ bị lực đẩy mạnh lùi về phía sau, chân ghế chà xát xuống nền gạch hoa tạo nên một âm thanh chói tai chói óc.
"Cháu không cần sự may mắn! Cháu chỉ cần biết hiện giờ cô ấy đang ở đâu thôi!" Giọng tôi vỡ òa, run rẩy bần bật. Không phải vì tôi đang tức giận hay hỗn láo. Mà vì tôi đang bị bủa vây bởi nỗi sợ. Một nỗi sợ hãi tột cùng chưa thể điểm mặt gọi tên, nhưng hình hài của nó thì đang càng lúc càng nở rộ rõ rệt. Nó đang đứng sừng sững ngay sau lưng tôi, phả từng luồng hơi thở lạnh buốt như nước mưa tháng sáu vào gáy tôi.
Ông Bình điềm tĩnh nhìn tôi rất lâu. Cặp mắt già nua chứa đầy những suy tư khó đoán. Cuối cùng, ông kéo ngăn kéo bàn làm việc, lôi ra một chiếc phong bì giấy đã ố vàng cũ kỹ.
Chiếc phong bì màu nâu đất, các mép giấy đã sờn rách lởm chởm. Mặt ngoài không hề ghi dòng địa chỉ người gửi hay người nhận nào, mà chỉ có một dòng chữ nắn nót viết bằng mực bi xanh: "Ảnh chưa gửi - A.N."
Ông đặt chiếc phong bì lên bàn gỗ, khẽ khàng đẩy nó về phía tôi. "Đây là toàn bộ những bức ảnh mà con bé đó đã để lại sau khi kết thúc đợt triển lãm. Thực ra đây không phải là tất cả, một phần lớn đã được cái cậu Lâm kia thu dọn đem đi mất rồi. Chú chỉ lén giữ lại mấy tấm này vì cứ đinh ninh rằng, một ngày nào đó sau này, con bé sẽ quay trở lại đây để lấy."
Tôi đờ đẫn cúi nhìn chiếc phong bì phai màu thời gian. "Cô ấy... đã không bao giờ quay lại nữa sao bác?"
Ông Bình mím môi không đáp. Sự im lặng đặc quánh ấy vốn dĩ đã là một câu trả lời tàn khốc nhất.
Tôi run rẩy đưa tay ra, chậm chạp nhấc chiếc phong bì lên. Lớp giấy bọc ngoài tuy đã ải, nhưng cảm giác cộm tay cho thấy bên trong vẫn còn chứa khá nhiều ảnh. Tôi bóc nắp phong bì, lóng ngóng rút ra vài tấm ảnh trên cùng.
Tấm ảnh thứ nhất: Khung cảnh Ga Hải Phòng chìm trong một ngày mưa rả rích. Tấm thứ hai: Chiếc ghế băng chờ tàu trống hoác, cô liêu. Tấm thứ ba: Lại là hình ảnh tôi của năm mười lăm tuổi, bị chụp trộm từ một khoảng cách rất xa, mờ nhòe. Đến tấm thứ tư... lại là mặt sau của một tấm ảnh phong cảnh, nhưng trên mặt giấy trắng có vết mực viết tay.
Nét chữ nghiêng nghiêng, thanh thoát và mềm mại, khác một trời một vực với nét chữ xù xì thô kệch của tôi. Bàn tay tôi run lên bần bật khi lật sang mặt trước để đối chiếu. Mặt trước là ảnh chụp cận cảnh chiếc đồng hồ lớn ngự trị trên nóc Ga Hải Phòng. Hai kim đồng hồ đang dừng lại ở thời khắc xấp xỉ bốn giờ chiều.
Tôi lật ngược lại mặt sau. Dòng chữ viết tay hiện ra rành rành: "Nếu cậu ấy thật sự tồn tại trên cõi đời này, vậy chứng tỏ mình không hề bị điên."
Và ngay bên dưới đó, có một dòng chú thích phụ được viết với cỡ chữ nhỏ xíu hơn hẳn, nét mực ngập ngừng như thể người viết đã phải trải qua rất nhiều lần đắn đo, dằn vặt trước khi hạ bút: "Nhưng cậu ấy còn nhỏ quá."
Tôi nghe thấy tiếng mình thở hắt ra, nặng nhọc và ngắt quãng. Những con chữ màu xanh nhảy múa điên cuồng rồi nhòe nhoẹt đi trước võng mạc tôi. Không phải do mực bút bi bị phai mờ vì ẩm mốc. Mà là bởi hốc mắt tôi bỗng dưng nóng rực lên, xót xa đến độ trào dâng những giọt nước mặn chát.
Thằng nhóc tôi của năm mười lăm tuổi non nớt ấy, lọt thỏm trong đôi mắt của An Nhiên, hóa ra chỉ đơn thuần là một đứa trẻ con hỉ mũi chưa sạch, một kẻ chưa kịp lớn. Còn gã thanh niên tôi của độ tuổi hai mươi hai ngạo nghễ hiện tại, mãi cho đến tận rạng sáng ngày hôm nay mới cay đắng bừng tỉnh nhận ra một sự thật: Vào cái mùa hè định mệnh năm đó, đã từng có một người con gái bằng xương bằng thịt đứng cách tôi chỉ một đoạn sân ga, cắn răng dốc cạn kiệt chút lý trí cuối cùng của bản thân để ngăn đôi chân mình không bước tới gọi tên tôi.
Tôi buông thõng tay, để mặc tấm ảnh rơi tự do xuống mặt bàn gỗ. Hai bàn tay nắm chặt mép bàn làm điểm tựa, tôi gục đầu xuống rất thấp, tưởng như trán sắp chạm mặt gỗ. Tôi không khóc thét lên. Ít nhất là tôi tự ảo tưởng rằng mình không hề khóc. Nhưng lồng ngực tôi đau đớn, quặn thắt đến mức tôi có cảm tưởng mình không thể chống đỡ nổi cơ thể này thêm một giây phút nào nữa.
Ông Bình không hé răng nói lời an ủi sáo rỗng. Ông chỉ ngồi bó gối lặng yên ở phía bên kia mặt bàn. Trông ông lúc này hệt như một vị thần gác cổng thầm lặng của cõi quá khứ, tỏ tường một chân lý rằng: bất cứ kẻ phàm trần nào mù quáng bước qua cánh cửa này, chắc chắn đều sẽ bị thương tích đầy mình.
Rất lâu sau đó, khi nhịp thở đã bớt hỗn loạn, tôi mới khó nhọc cất lên một chất giọng khàn đặc, thê lương: "Bác... bác có còn lưu giữ bất kỳ thông tin liên lạc cá nhân nào của cô ấy không ạ?"
Ông Bình mệt mỏi lắc đầu. "Không cháu ạ. Nhưng trong cuốn hồ sơ lưu trữ của ban tổ chức triển lãm, chú thấy có ghi lại một địa chỉ email hòm thư điện tử và một đường link dẫn đến trang blog cá nhân của con bé. Chú cũng không dám chắc những thứ đó bây giờ còn hoạt động hay không."
Ông lại cặm cụi lật tìm tờ danh sách tác giả khi nãy, dùng ngón tay trỏ chỉ vào một dòng chữ nhỏ li ti được in nằm nép ngay bên dưới cái tên An Nhiên. Tôi lập tức vồ lấy điện thoại, cuống cuồng bật camera chụp lại ngay lập tức. Dòng thông tin ấy bao gồm một địa chỉ email có vẻ đã cũ, và một đường dẫn URL blog mang một cái tên dài ngoằng, kỳ lạ:
"nhungngaymuadenmuon." Những ngày mưa đến muộn.
Mắt tôi dán chặt vào cái tên đường dẫn ấy, bất giác một cơn rùng mình lạnh lẽo chạy dọc sống lưng.
Ông Bình nhấp một ngụm nước trà nguội lạnh, nói: "Hồi đợt đó con bé này có vẻ rất thích viết lách. Nó viết nhiều lắm. Viết tạp nham về nhiếp ảnh, về những cơn mưa rào, và về cả những vùng đất mà nó chưa từng một lần đặt chân đến nhưng lại bảo rằng luôn có cảm giác thân thuộc. Có bận rảnh rỗi, chú tò mò mò vào đọc thử một bài, nhưng tự dưng đọc xong chả hiểu mô tê gì sất. Chắc tụi trẻ tuổi các cô các cậu bây giờ chuộng cái văn phong u buồn, lãng đãng mây trôi như thế."
Tôi ngước đôi mắt đỏ hoe nhìn ông. "Vậy trong cái blog đó... cô ấy có bao giờ viết nhắc tên cháu không ạ?"
Ông Bình né tránh ánh mắt tôi, không đưa ra một câu trả lời trực diện. Ông chỉ thở hắt ra, bảo: "Nếu thằng nhóc trong ảnh thật sự là cháu, thì chú nghĩ... cháu nên tự mình mở ra mà đọc lấy thì hơn."
Tôi nắm chặt chiếc điện thoại dính đầy mồ hôi. Tôi ý thức được rất rõ, bản thân mình vừa được trao tay một chiếc chìa khóa để mở ra một cánh cửa hoàn toàn khác. Không phải là cánh cửa dẫn ngược về quá khứ nhà ga Hải Phòng. Mà đây là cánh cửa mở toang lối đi tiến thẳng vào thế giới nội tâm của An Nhiên. Một thế giới ngầm mà tôi hoàn toàn mù tịt chẳng biết một chút khái niệm gì về nó, mặc dù tôi và cô đã ngày ngày gặp gỡ, trò chuyện trong cõi mộng mị suốt hơn chục năm trời.
Tôi lưu cẩn thận bức ảnh chụp danh sách vào thư mục an toàn, rồi lễ phép đẩy trả lại tập hồ sơ cho ông Bình. Nhưng ngay khoảnh khắc tôi vịn tay chống gối định đứng dậy cáo từ, ông Bình đột ngột cất giọng gọi giật lại:
"Này, cậu Minh An." Tôi sững người quay lại. Ông chầm chậm nhặt lên một tấm ảnh nhỏ, chần chừ do dự mất vài giây rồi chìa nó ra trước mặt tôi.
"Cậu cầm lấy tấm này đi. Dù sao thì người chụp dính trong ảnh cũng chính là cậu mà."
Tôi cúi gầm mặt nhìn xuống. Đó chính là bức ảnh chụp lén tôi của năm mười lăm tuổi ngây ngô đứng phơi mình ở sân ga, phía mờ xa bối cảnh hậu trường là hình bóng An Nhiên cô độc chống đỡ chiếc ô màu vàng rực. Hai sinh mệnh chúng tôi cùng hiện diện, cùng tồn tại song song trong một khung hình duy nhất, nhưng trớ trêu thay, lại không có một ai đánh mắt nhìn về phía đối phương.
Tôi vươn tay ra, nhận lấy tấm ảnh bằng sự trân trọng của cả hai bàn tay. Chất liệu giấy in ảnh bóng bẩy mát lạnh truyền qua da thịt, chạm thẳng vào lòng bàn tay tôi. Một khoảnh khắc chớp nhoáng của dĩ vãng quá đỗi xa xưa. Nhưng lại là một vật chứng mang tính sát thương quá đỗi tàn bạo.
Tôi cúi rạp người cảm tạ ông Bình, rồi nặng nề kéo vali lê bước rời khỏi tiệm ảnh tăm tối.
Bên ngoài cửa tiệm, con phố Tam Bạc đã đón những vạt nắng lên sáng bừng. Nắng rực rỡ sau cơn mưa tắm táp phủ lên mặt nước lững lờ của dòng sông một lớp màu vàng nhợt nhạt, óng ánh. Dòng người xe cộ qua lại đã đông đúc, tấp nập hơn hẳn. Một cụ già lưng còng cong người đẩy chiếc xe thồ chở đầy hoa quả ế ẩm đi lướt qua mặt tôi. Một tốp học sinh choắt con mặc áo trắng đồng phục đuổi nhau chạy vụt qua trên vỉa hè, tiếng cười nói lanh lảnh. Một chiếc xe máy cũ mèm phóng vụt qua vũng nước tù đọng ven đường, làm bánh xe bắn tung tóe những vệt bùn lầy lấm tấm.
Thành phố này vẫn đang hít thở, đang sống động. Mọi thứ diễn ra vẫn đều đặn, thản nhiên đến vô tâm. Như thể cái sự kiện chấn động vừa mới xảy ra bên trong không gian tiệm ảnh cũ nát kia, cái thực tế phũ phàng rằng toàn bộ thế giới quan cốt lõi của tôi vừa bị xé toạc làm đôi, chẳng hề mảy may tác động đến một hạt bụi nào của vũ trụ này.
Tôi tìm một góc đứng nép dưới mái hiên của một cửa tiệm đóng cửa, mở khóa điện thoại, dán mắt gõ từng ký tự đường link blog của An Nhiên vào thanh tìm kiếm trình duyệt.
"nhungngaymuadenmuon."
Mạng chập chờn, trang web load dữ liệu chậm rì rề. Cái biểu tượng vòng tròn xoay tít trên màn hình cứ quay mòng mòng, kéo dài thời gian chờ đợi đến mức lồng ngực tôi nghẹn ứ, gần như tắc thở.
Rồi cuối cùng, sau những giây phút đọa đày, giao diện trang blog cũng chịu hiện ra. Một tông màu nền trắng toát, cũ kỹ theo kiểu thẩm mỹ đời đầu. Font chữ máy tính đơn giản, cơ bản nhất. Không có lấy một tấm ảnh đại diện cá nhân nào. Không hề có bất cứ một họa tiết trang trí, làm đẹp nào. Chỉ có chỏng chơ một dòng tiêu đề in to nằm chính giữa đầu trang web: "Nhật ký của những nơi chưa từng đến."
Bài viết được cập nhật mới nhất đã bị chủ nhân cố tình ghim cố định lên trên cùng. Ngày đăng tải: 18 tháng 6 năm 2011. Tiêu đề bài viết: "Tôi đã nhìn thấy cậu ấy."
Tôi đứng chôn chân giữa dòng người hối hả qua lại trên phố Tam Bạc, đôi tay siết chặt lấy chiếc điện thoại, cảm tưởng như toàn bộ máu huyết trong huyết quản mình vừa bị đông cứng lại thành đá.
Ngón tay trỏ của tôi lơ lửng, run rẩy dừng khựng lại trên bề mặt màn hình cảm ứng một lúc rất lâu. Tôi thừa hiểu rằng, chỉ cần nhích đầu ngón tay chạm nhẹ vào một cái thôi, tôi sẽ lập tức đọc được toàn bộ những dòng tâm sự mà An Nhiên đã cào cấu ruột gan để viết ra sau cái ngày cô ấy nhìn trộm tôi ở nhà ga. Chỉ cần một cú chạm nhẹ, tôi sẽ bóc trần được việc cô ấy đã suy tính những gì. Tôi sẽ tìm ra lời giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi tại sao ngày hôm đó cô ấy lại hèn nhát chọn cách không bước tới gọi tên tôi. Và tôi có thể sẽ biết được rốt cuộc, sau cái mùa hạ chia ly năm đó, biến cố kinh khủng nào đã giáng xuống cuộc đời cô.
Nhưng tôi lại chần chừ, tôi sợ hãi. Nỗi sợ hãi tột đỉnh len lỏi xâm chiếm làm đầu ngón tay tôi run lên bần bật. Bởi vì tôi lờ mờ nhận ra rằng: ở đời có những sự thật chí mạng, trước khoảnh khắc ta tự tay mở nắp chiếc hộp Pandora ấy ra, ta vẫn còn quyền được tự lừa dối bản thân, được bấu víu vớt vát chút hy vọng mong manh rằng những thứ nằm bên trong đó sẽ không làm mình quá đau đớn.
Tôi nhắm mắt lại, dốc hết sức bình sinh hít vào buồng phổi một hơi khí trời thật sâu. Rồi dứt khoát bấm mở bài viết.
Dòng chữ đầu tiên của bài blog từ từ trồi lên màn hình, load rất chậm, từng chữ một hiện ra rõ ràng như thể đang được ai đó nhọc nhằn kéo lên từ dưới đáy vùng nước sâu tăm tối.
"Hôm nay, ở Ga Hải Phòng, tôi đã nhìn thấy Minh An bằng xương bằng thịt ngoài đời."
Màng nhĩ tôi ù đặc, tôi không còn nghe thấy bất kỳ tạp âm xô bồ nào của phố thị nữa. Tôi không còn cảm nhận được cái rát của nắng gắt. Tôi không còn nhìn thấy dòng nước lờ đờ của con sông Tam Bạc. Mắt tôi chỉ đóng đinh, trân trân nhìn vào đúng một dòng chữ duy nhất ấy. Cảm giác lạnh gáy chạy xộc lên não bộ, giống hệt như có một âm hồn nào đó vừa cất tiếng gọi đích danh tên tôi vọng về từ khoảng không thời gian của bảy năm trước.
Và lần này, thì tôi đã biết chắc chắn một điều. Người con gái đó... hoàn toàn không nằm trong thế giới của những giấc mơ.
Bình luận (Người Chưa Kịp Lớn) (0)
Vui lòng đăng nhập để bình luận